Bí ẩn về căn bệnh ung thư vú

( Sức Khỏe ) Đối với hầu hết các loại ung thư thường gặp, nguyên nhân chính đều đã được xác định: hút thuốc gây ra 90% số trường hợp ung thư phổi trên toàn thế giới, virus viêm gan hepatitis là nguyên nhân chính dẫn đến ung thư gan, vi khuẩn H pylori gây ung thư bao tử,  siêu vi papilon ở người gây ra hầu hết các ca ung thư cổ tử cung, ung thư ruột kết phần lớn là do hoạt động thể chất, chế độ ăn uống và tiểu sử gia đình.

 

 

While we search for a cure, we are still searching for cause.
Chúng ta đang tìm cách chữa trị trong khi lại chưa biết rõ nguyên nhân

Tuy nhiên, đối với ung thư vú, chúng ta lại không tìm thấy thủ phạm. Đây là một trường hợp đặc biệt trong các loại ung thư thường gặp trên thế giới bởi lẽ không ai biết đâu là nguyên nhân chính của căn bệnh này; không có ý kiến thống nhất từ các chuyên gia về bằng chứng xác định nguyên nhân chính của căn bệnh.

Tuy nhiên, ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất đối với phụ nữ, mặc dù nguy cơ mắc bệnh lại không trải đều trên toàn thế giới. Phụ nữ ở Bắc Mỹ và Bắc Âu từ lâu đã có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 5 lần so với phụ nữ ở Châu Phi và Châu Á, dù rằng gần đây nguy cơ này đã gia tăng nhanh ở Châu Phi và Châu Á mà không rõ nguyên do.

(Rowan Peter/Flickr, CC BY-SA 2.0)
(Rowan Peter/Flickr, CC BY-SA 2.0)

Có phải chế độ ăn uống chính là nguyên nhân?

Mãi cho đến cách đây 20 năm, chúng ta vẫn cứ cho rằng toàn bộ nguyên nhân là do chế độ ăn uống. Giả thuyết được đặt ra rằng vì con người bỏ qua những nguồn thức ăn nơi họ sinh sống và bắt đầu ăn các loại thực phẩm chế biến chứa nhiều chất béo, nên các nhà nghiên cứu cho rằng đó là nguyên nhân khiến ung thư vú có nhiều khả năng phát triển hơn.

Giả thuyết này là hợp lý vì khi các nhà nghiên cứu phân tích lượng tiêu thụ chất béo của mỗi người và đối chiếu với tỷ lệ ung thư vú, họ đã phát hiện ra một sự liên quan chặt chẽ. Hơn nữa, những con chuột được nuôi bằng chế độ ăn uống có nhiều chất béo dễ bị các khối u vú.

Bằng cách nghiên cứu những người Nhật nhập cư đến California, các nhà nghiên cứu đã phát hiện rằng thế hệ đầu tiên có nguy cơ mắc bệnh này thấp, giống như bố mẹ họ ở Nhật, nhưng khi đến thế hệ thứ hai hay ba, nguy cơ mắc bệnh cũng cao như những phụ nữ da trắng người Mỹ.

Vì thế, gen chủng tộc không phải là nguyên nhân giải thích cho những khác biệt rõ rệt về nguy cơ mắc ung thư vú giữa người Châu Á và Châu Mỹ. Điều này cũng phù hợp với ý kiến cho rằng sự thay đổi chuyển từ thực phẩm ít béo vốn có trong chế độ ăn uống của người Châu Á sang chế độ ăn uống nhiều chất béo của người Mỹ chính là nguyên nhân gây ra ung thư. Vì thế điều này là hoàn toàn có lý.

Cho đến khi nó không còn đúng nữa.

Các nghiên cứu về chế độ ăn uống phát hiện rằng chất béo không phải là nguyên nhân

Bắt đầu từ giữa thập niên 1980, những nghiên cứu tiềm năng đối với chế độ ăn uống và bệnh ung thư vú mới được báo cáo, và kết quả từ những nghiên cứu này đều phủ định với giả thuyết trên. Chất béo trong chế độ ăn uống của phụ nữ trưởng thành không có một chút ảnh hưởng gì đến nguy cơ ung thư vú.

Điều này khiến người ta vô cùng kinh ngạc cũng như thất vọng. Bằng chứng về những khía cạnh khác của chế độ ăn uống như trái cây và rau củ là không rõ ràng, mặc dù việc uống rượu thật sự phần nào làm tăng nguy cơ này. Cũng rõ ràng là những phụ nữ nặng cân hơn thì có nguy cơ mắc bệnh này cao hơn sau mãn kinh, điều này có thể ngụ ý về toàn bộ lượng calo tiêu thụ chứ không phải do thành phần của chế độ ăn uống.

Có khả năng là việc sớm tiếp xúc với chế độ ăn uống có chất béo, thậm chí lúc còn trong thai mẹ, cũng là yếu tố quan trọng, nhưng nghiên cứu điều này trên con người là rất khó, vì thế chúng ta không biết được điều này có thể có liên quan đến nguy cơ ung thư vú nhiều đến mức nào.

Nếu chế độ ăn uống không phải là nguyên nhân chính gây ra ung thư vú thì còn điều gì liên quan đến cuộc sống hiện đại có thể là thủ phạm?

Some risk factors, like exercise, can be modified. (Chris Hunkeler/Flickr, CC BY-SA 2.0)
Một số yếu tố có nguy cơ gây bệnh, như luyện tập, có thể được điều chỉnh.(Chris Hunkeler/Flickr, CC BY-SA 2.0)

 

Hai loại yếu tố có nguy cơ gây bệnh: Loại chúng ta có thể thay đổi được và loại không thể thay đổi được

Những yếu tố cho thấy có ảnh hưởng đến nguy cơ phát triển ung thư vú thuộc về hai loại. Loại thứ nhất, những yếu tố không thể dễ dàng thay đổi: độ tuổi bắt đầu có kinh nguyệt, tuổi sinh con đầu lòng, tiểu sử gia đình, những gen như BRCA1. Và loại thứ hai, những yếu tố có thể thay đổi được: tập luyện, cân nặng, dùng rượu, công việc làm vào ban đêm.

Vai trò của yếu tố ô nhiễm môi trường còn gây tranh cãi và cũng khó nghiên cứu. Mối lo ngại về các chất hóa học – cụ thể là những hóa chất can thiệp đến hoạt động của tuyến hóc môn – bắt đầu dấy lên sau khi các nhà nghiên cứu nhận ra rằng những hóa chất này có thể ảnh hưởng nguy cơ ung thư ở họ nhà chuột. Tuy nhiên ở những nghiên cứu trên con người, bằng chứng có được lại không rõ ràng.

Vì sinh con khi còn trẻ tuổi và cho con bú làm giảm nguy cơ ung thư  vú, nên mức độ ảnh hưởng của căn bệnh này ở khắp Châu Phi là ít hơn, do phụ nữ nơi đây có tỉ lệ sinh con nhiều hơn và lập gia đình sớm hơn.

Tuy nhiên, tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư vú ở Châu Phi vùng hạ Sahara hiện tại cũng xấp xỉ như ở những nước phát triển, mặc dù số người mắc phải căn bệnh này ít hơn nhiều. Đây là do ở Châu Phi, phụ nữ được chẩn đoán vào giai đoạn sau của căn bệnh và cũng có ít lựa chọn điều trị hơn.

Vấn đề là liệu những yếu tố nguy cơ được biết đến kia có khác nhau giữa những xã hội hiện đại (với nguy cơ cao) và những xã hội đang phát triển (với nguy cơ thấp) đến mức dẫn đến những khác biệt lớn như thế về nguy cơ mắc bệnh hay không. Câu trả lời: có thể là không. Các chuyên gia nhận thấy rằng có gần đến một nửa số yếu tố ‘nguy cơ cao’ kể trên một mặt có thể giải thích cho các ca bệnh ở Mỹ nhưng lại không phải là nguyên nhân gây bệnh cho những phụ nữ Châu Á.

Một câu hỏi liên quan là liệu nguy cơ cao ở Mỹ và Bắc Âu có phải do tổng hợp nhiều loại tiếp xúc đã được biết đến, trong đó mỗi loại tiếp xúc đó ảnh hưởng đến nguy cơ mắc bệnh một chút, hoặc chủ yếu là do một nguyên nhân chính mà cho đến nay vẫn chưa phát hiện được. Và có thể một số những yếu tố nguy cơ đã được biết đến có chung một nguyên nhân mà chúng ta chưa hiểu được.

Có phải chỉ do chúng ta đang phát hiện thêm nhiều ca ung thư?

Từ thập niên 1980, chụp quét bằng nhũ ảnh được cho là nguyên nhân làm tăng phạm vi phát hiện căn bệnh này ở những nước hiện đại so với những nước đang phát triển, nhưng cũng không đủ rõ để giải thích cho toàn bộ khác biệt kia.

Khoảng 20% các trường hợp ung thư được tìm thấy bằng nhũ ảnh được tin là không bao giờ phát triển hơn giai đoạn ban đầu mà nhũ ảnh có thể phát hiện ra. Nhưng vấn đề là chúng ta không thể phán đoán được đâu là những khối u lành tính và đâu là không phải.

Electric light and shift work may be factors. (cherezoff/iStock)
Ánh đèn điện và làm việc vào ban đêm có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú. (cherezoff/iStock)

Vậy còn ánh đèn điện thì sao?

Ánh đèn điện là đặc trưng của đời sống hiện đại. Vì thế, có thể là việc ứng dụng và sử dụng điện ngày càng tăng do nhu cầu thắp sáng vào ban đêm là một phần nguyên nhân gây nên gánh nặng ung thư vú trên toàn thế giới.

Điều này có thể là do nhịp độ sinh học bị phá vỡ, đã làm tác động đến hóc môn ảnh hưởng đến sự phát triển của ung thư vú. Ví dụ như, ánh đèn điện vào ban đêm có thể kích hoạt cơ thể vào trạng thái sinh lý ban ngày, là lúc mà hóc môn melatonin bị kiềm nén; và melatonin đã được chứng minh là có ảnh hưởng ngăn chặn đối với các khối u ở vú của con người vốn cũng phát triển ở chuột.

Thuyết này dễ phát biểu nhưng khó kiểm định một cách toàn bộ. Những nghiên cứu đã chứng minh rằng phụ nữ làm việc ban đêm có nguy cơ mắc bệnh cao hơn những phụ nữ làm việc ban ngày, đó cũng là cơ sở dự đoán đầu tiên của thuyết này.

Dựa vào thuyết này có thể đưa ra những dự đoán khác cho rằng những phụ nữ bị mù có nguy cơ mắc bệnh thấp hơn, những người ngủ ít sẽ gặp nguy cơ cao hơn và những cộng đồng sống trong điều kiện sử dụng đèn điện nhiều vào ban đêm có số lượng mắc bệnh ung thư vú cao hơn. Mỗi dự đoán này đều có những bằng chứng hỗ trợ khiêm tốn dù là không thể đưa đến bất kỳ kết luận nào. Điều chúng ta biết là đèn điện vào buổi tối và ban đêm có thể làm gián đoạn nhịp sinh học, và liệu điều này có gây hại cho sức khỏe về lâu về dài của chúng ta hay không – bao gồm cả nguy cơ mắc bệnh ung thư vú – là vẫn còn chưa rõ.

Dù là chuyện gì đang diễn ra, tìm ra câu trả lời cũng là điều quan trọng vì ung thư vú đã trở thành nỗi nhức nhối hiện đang ảnh hưởng nguy hại đến rất nhiều phụ nữ trên toàn thế giới, với khoảng 2 triệu ca chỉ trong năm nay.

Richard Stevens là giáo sư và nhà nghiên cứu kiểm soát bệnh ung thư thuộc Đại học Connecticut. Bài viết này được đăng nguyên gốc trên The Conversation. Đọc bản gốc.
Nếu bạn thấy bài viết hay, hãy chia sẻ nó với bạn bè
Theo Theconversation.com

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here